Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Lên rừng xuống biển Thổ Chu

(TTO) - Vượt biển suốt bảy giờ đồng hồ trong điều kiện sóng gió tây nam mạnh cấp 4 để đến quần đảo Thổ Chu, chúng tôi dự định đi cho biết đây đó rồi trở về đất liền ngay ngày hôm sau. Nhưng cái màu xanh khoáng đạt của rừng, biển và những rạn san hô đẹp nguyên thủy nơi đây đã níu chân chúng tôi đến sáu ngày!

< Hòn Xanh nhìn từ Thổ Chu.

Quần đảo Thổ Chu gồm tám đảo nằm trong vịnh Thái Lan, trong đó đảo Thổ Chu hay còn được ghi là Poulo Panjang trong hải đồ của các nhà hàng hải phương Tây, là đảo lớn nhất với diện tích 13,95km² và là trung tâm hành chính xã Thổ Châu, cách Rạch Giá 220km, cách Phú Quốc 102km, đồng thời được xem là điểm cực tây nam của Tổ quốc.

Vào nơi yên tịnh của thiên nhiên

< Một góc Hòn Nhạn.

Phải chăng do vị trí nằm biệt lập cùng với yếu tố thời tiết, khí hậu, đầu sóng ngọn gió mà hệ sinh thái quần đảo Thổ Chu rất đa dạng, độc đáo và còn ẩn chứa trong thiên nhiên nhiều điều kỳ thú. Đứng trên Hòn Nhạn, nhìn tứ bề: gần bên là những tác phẩm đá được thiên nhiên gia công mài dũa, tạo hình hoàn mỹ, xa hơn là đảo Thổ Chu tựa như bức trường thành, xa hơn nữa là biển cả mênh mông, những con thuyền vượt sóng ra khơi... mới thấy quê hương đẹp làm sao!

< Ghềnh đá Hòn Từ bị xâm thực tạo nên hình dáng lạ lùng đẹp mắt.

Từ trung tâm xã đi đến các bến thuyền, bãi tắm, hải đăng, địa điểm thăm thú... mọi con đường đều xuyên qua rừng nên khách phương xa chạy xe chẳng mấy ai cần vội vàng, phóng nhanh như người bản địa. Bởi họ dành chút thời gian ngắm nhìn lá vàng rơi lả tả theo chiều gió và lắng nghe tiếng chim thay nhau hót líu lo trên những vòm cây cao chót vót. Thỉnh thoảng dừng xe, men theo lối mòn vào rừng sẽ bắt gặp cây vải rừng với những chùm quả chín đỏ hoặc cây dâu với trái chín vàng bám chi chít từ thân đến cành cây trông thật bắt mắt, khiến khách khó cưỡng lại ham muốn thưởng thức cây trái trời cho này.

< Thu hoạch vải rừng đầu mùa.

Rừng phủ kín đảo Thổ Chu là rừng nguyên sinh với hệ thực vật có trên 200 loài, chiếm ưu thế là các họ bứa (Guttifereae), đậu (Fabaceae) và hồng xiêm (Sapotaceae) được bảo vệ nghiêm ngặt, không hề có nạn phá rừng. Vì vậy rất dễ dàng bắt gặp bên đường những cây cổ thụ thẳng đứng 5-7 người ôm không hết vòng. Có đất, có rừng ắt có nước ngọt. Quả thật mạch nước ngọt trên đảo dồi dào quanh năm, không xảy ra tình trạng khô hạn.

< Một góc bãi biển với cát mịn, trắng ở Hòn Từ.

Rời bãi Dong, một bãi biển nằm hướng đông bắc đảo Thổ Chu, chúng tôi theo thuyền đánh bắt cá hướng tới Hòn Từ. Không lâu sau đó thuyền tiếp tục men theo ghềnh đá để tránh những đợt sóng nhồi trước khi xuôi dòng chảy tiến vào Hòn Cao. Thủy triều đang xuống, phơi bày ven bờ những bãi đá đầy cành san hô chết khô. Còn trên đảo là màu xanh um của cây rừng. Cảnh sắc rừng trên Hòn Cao mang sắc thái riêng, không chỉ tươi mát bởi toàn cây cổ thụ: phong ba, bàng vuông, cây da... với những bộ rễ bám chắc vào rạn san hô được hình thành qua quá trình tạo sơn. Những chỗ này còn là nơi cư trú của đàn dơi quạ đang treo ngược ngủ trên cành cây sau một đêm kiếm ăn. Chợt phát hiện kẻ lạ xâm nhập, chúng phát ra âm thanh ríu rít như gọi bầy đàn rồi vỗ cánh bay đen kín cả một góc trời. Bất giác cảm thấy hối hận vì nỗi đã phạm vào sự yên tịnh của thiên nhiên bằng những bước chân.

Huyền ảo dưới đại dương

< Dơi quạ có rất nhiều ở Hòn Cao.

Nếu chuyến đi rừng đã khiến tôi mê mẩn thì chuyến đi lặn biển tại Hòn Từ với chủ thuyền Nguyễn Văn Hòa chuyên sống bằng nghề lặn bắt bào ngư... lại gây ấn tượng mạnh hơn, ngay cái nhìn đầu tiên dưới lòng đại dương. Đó là một thế giới huyền ảo của 99 loại san hô khác nhau bên cạnh thảm cỏ biển mà chiếm ưu thế là các giống Acropora (san hô tán/bàn), Montipora (san hô sừng hươu) cùng đàn cá đủ màu sắc, những loại ốc cờ, ốc tai tượng, bào ngư, cổ hiếu, cầu gai... đang ẩn mình dưới độ sâu từ 7-10m. Thật khó diễn tả hết bằng lời, cũng không thể chia sẻ với ai bởi lẽ có nói thành lời cũng chẳng đủ ngôn từ để mô tả. Vậy nên đành phải yên lặng mà để cảm xúc cứ thế dâng trào.

< Ngư dân Nguyễn Văn Hòa - người hướng dẫn chúng tôi thực hiện chuyến khảo sát lặn biển ở Hòn Từ thuộc đảo Thổ Chu.

Theo các chuyên gia, đây còn là nơi lý tưởng để các loài rùa biển đang bị đe dọa trên toàn cầu như đồi mồi (Eretmochelys imbricata) và vích (Chelonia mydas) chọn làm tổ. Bởi thảm cỏ biển tại khu vực này chính là nguồn thức ăn khoái khẩu của các loài rùa biển.

Bơi lặn vùng biển Thổ Chu, chúng tôi trải nghiệm nhiều điều: biết đeo dây bảo hiểm nối với thuyền đề phòng dòng chảy cuốn ra xa. Nếu lặn nổi thì chỉ cần đeo kính và ống thở là có thể ngắm san hô hiện hữu dưới độ sâu 10m, muốn lặn sâu thì tiện thể học cách sử dụng ống hơi phát ra từ máy bơm oxy trên thuyền như một dân chài thực thụ. Hơn thế nữa nó lại nhẹ nhàng và thời gian sử dụng kéo dài so với lặn bằng bình dưỡng khí...

Rộn ràng Hòn Nhạn

Nhưng niềm hạnh phúc nhất của chúng tôi trong những ngày ở Thổ Chu là vượt biển đặt chân tới Hòn Nhạn, cũng là điểm chuẩn A1 của đường cơ sở để xác định lãnh hải Việt Nam và là nơi chim nhạn di trú và sinh sản, cách Thổ Chu 5km về hướng tây nam.

Hôm chúng tôi khởi hành đến Hòn Nhạn, biển đang sôi sục, mặt nước chuyển dần sang màu xanh sậm, từng cơn sóng nối tiếp nhau chồm lên dữ dội như muốn dìm lấy con thuyền câu nhỏ bé. “Đành phải chạy cặp theo Hòn Xanh để núp gió trước khi gối lên sóng đi tiếp ra Hòn Nhạn” - anh Hòa nói thế. Hơn tiếng đồng hồ sau, Hòn Nhạn đã hiện trước mặt cùng lúc trong không gian vang lên âm thanh ồn ào từ tiếng kêu của vô vàn chim nhạn bay kín trên bầu trời, tạo nên cảnh tượng rộn ràng như muốn xua đuổi những vị khách không mời mà tới.

< Lặn biển ở Hòn Từ với vô vàn cá, san hô đẹp mắt.

Sóng vẫn dồn dập, thuyền vẫn nghiêng ngả, tới mức chúng tôi không thể đứng vững huống hồ là để chụp ảnh, quay phim. Tới nước này, muốn lên đảo chỉ còn cách thuyền phải neo đậu xa bờ để tránh va chạm vào đá ngầm, riêng chúng tôi ôm thùng xốp chứa túi máy ảnh, máy quay phim, cứ thế mà bơi vào. Mặc cho sóng dữ đẩy đưa, mặc cho giày dép bị trôi mất và đá ngầm thỉnh thoảng cứa vào chân, cuối cùng chúng tôi đã đổ bộ lên đảo.

Hòn Nhạn là đảo khô, vốn toàn đá tảng lớn nhỏ chồng chất lên nhau và cây cỏ chỉ sinh sôi khi mùa mưa tới, đó cũng là thời điểm từ tháng 4 đến tháng 9 âm lịch, loài nhạn thường bay về sinh sản. Mỗi mùa nhạn thường đẻ 1-2 trứng trong những hốc đá hoặc dưới lùm cây cỏ dại. Nhạn không ấp trứng nhưng hằng ngày sau khi bay đi kiếm ăn thường bay về để xem chừng. Trong vòng 30 ngày, trứng nở, lúc ấy chúng mới mớm cho nhạn con ăn, đến khi đủ lông đủ cánh.

Trở về đất liền, chúng tôi mang theo niềm vui của kẻ khám phá ra nhiều điều kỳ thú về đảo tiền tiêu phía tây nam của Tổ quốc. Nhưng vẫn canh cánh nỗi lo lắng vu vơ: trong tương lai, liệu địa phương có biện pháp bảo tồn môi trường thiên nhiên tươi đẹp như hiện nay khi mà hằng ngày vẫn thấy từng nhóm người lên đảo Hòn Nhạn để săm soi lượm trứng, những con thuyền ngẫu hứng dừng đậu xung quanh Hòn Từ, Hòn Cao... và mỗi lần thả neo họ có nhận thức đã làm gãy vụn biết bao cành san hô, cả những trường hợp ghe cào con banh lông cày nát đáy biển từng ngày...

< Người dân kiếm sống trong rừng Thổ Chu.

Cố gắng đến hè 2015 sẽ khai thác...

Năm ngoái, trong một chuyến tháp tùng cùng Bộ tư lệnh Vùng 5 hải quân đi thăm hàng loạt hòn đảo của vùng biển Tây Nam như Thổ Chu, Nam Du, Hòn Khoai, Hòn Chuối, đảo Hải Tặc... cả đoàn TP.HCM ai cũng liên tục chắc lưỡi trước vẻ đẹp đến ngỡ ngàng của những nơi này.

Nhưng, đi kèm sau những tiếng reo vui ngỡ ngàng, bao giờ cũng là câu hỏi: Sao chưa thấy phát triển du lịch? Bởi lâu nay, tuy Thổ Chu, Nam Du, Hòn Khoai, Hòn Chuối, đảo Hải Tặc... chẳng lạ lùng gì với dân phượt; nhưng đó cũng chỉ là những chuyến đi tự phát của dân du lịch bụi, chứ ngành “công nghiệp không khói” chưa hề có dấu ấn ở đây.

< Ông Trần Thế Dũng trong chuyến “lên rừng xuống biển Thổ Chu”.

Vì vậy, khi nghe ông Trần Thế Dũng - giám đốc Công ty du lịch Thế Hệ Trẻ (TP.HCM) - kể vừa thực hiện một chuyến đi khảo sát Thổ Chu, với những trải nghiệm thực tế một cách chuyên nghiệp của dân làm du lịch, chúng tôi đã hỏi ngay cảm tưởng của ông Dũng về nơi này. Ông Dũng hít hà nói: ”Đẹp lắm. Tuyệt vời lắm”. Và theo lời đề nghị của chúng tôi, ông Dũng đồng ý viết bài, gửi ảnh để giới thiệu chuyến khảo sát này. (Theo tìm hiểu của chúng tôi, hình như đây là lần đầu tiên có một nhà làm du lịch đi khảo sát lặn biển, vào rừng ở Thổ Chu - NV).

Nhưng liệu đến bao giờ thì tour lặn biển Hòn Từ, thăm rừng Thổ Chu và khám phá Hòn Nhạn sẽ chính thức được khai thác? Trả lời câu hỏi này, ông Dũng nói: ”Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì đến mùa hè năm sau. Bởi chúng tôi còn phải rà soát lại mọi chuyện, từ phương tiện di chuyển sao phải thật an toàn cho khách, đến nơi ăn chốn ở phải đạt chuẩn làm du lịch, rồi còn phải làm việc với địa phương...”.

Theo Trần Thế Dũng (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc (Phú Quốc)

Nằm trên sườn núi hướng ra biển ở phía cuối của một con đường uốn khúc qua các triền núi của đảo Phú Quốc, Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc có thể coi là một trong những ngôi chùa có địa thế đẹp nhất Việt Nam.

< Cổng tam quan Thiền Viện Trúc Lâm Phú Quốc – Chùa Hộ Quốc.

Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc được khánh thành vào ngày 14.12.2012, tọa lạc tại ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ (H.Phú Quốc, Kiên Giang). Đây là ngôi chùa mới xây dựng có quy mô lớn nhất ở ĐBSCL, theo lối kiến trúc thời nhà Lý và nhà Trần.

< Khánh thành năm 2012, đây là ngôi chùa mới xây dựng có quy mô lớn nhất của các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Chùa được xây theo kiến trúc thời nhà Lý và nhà Trần với tháp chuông, tháp trống, ngôi Đại hùng bảo điện và nhà Tổ.

< Không gian bên trong chính điện của chùa.

Các công trình làm bằng gỗ liêm và đá nguyên thủy có giá trị sử dụng từ 700 - 1.000 năm , các chi tiết kiến trúc được chạm khắc rất công phu. Riêng vùng biển phía trước Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc vẫn còn rất hoang sơ, hầu như không có dấu ấn của con người.

< Từ chính điện có thể ngắm nhìn khoảng không gian bao la của biển trời Phú Quốc.

Với khung cảnh hoang sơ, yên tĩnh: Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc là điểm dừng chân lý tưởng của du khách mỗi khi có dịp đến tham quan đảo ngọc.

Mặc dù hiện nay, việc xây dựng các công trình phụ - trang trí... vẫn chưa hoàn thành đủ nhưng do có phong cảnh đẹp và khí hậu mát mẻ nên hằng ngày nơi đây thu hút được rất nhiều du khách cùng các tăng ni, phật tử đến tham quan và lễ Phật. Người dân địa phương và du khách thường đến đây dâng hương trong các dịp lễ tết và thư giãn tĩnh tâm sau những giờ phút lao động căng thẳng.

< Quang cảnh đường lên chùa với bên núi, bên biển rất đẹp.

Sau khi xây dựng hoàn thành con đường dẫn vào, thiền viện sẽ kết hợp với Khu du lịch sinh thái - văn hóa Phú Quốc tạo nên một khung cảnh thiên nhiên đặc sắc đầy vẻ tôn nghiêm và thanh tịnh, thu hút khách thập phương quanh năm ghé đến để chiêm bái thưởng ngoạn, góp phần vào sự phát triển du lịch của đảo Phú Quốc và cả nước.

Tổng hợp từ internet
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Đảo Đá Lớn A: Lâu đài giữa Trường Sa

(Vietnamnet) - Đảo Đá Lớn A đẹp lung linh như một lâu đài giữa đại dương. Đây cũng là một trong những đảo chìm lớn nhất nằm trong quần đảo Trường Sa.

< "Lâu đài" Đá Lớn A giữa Biển Đông.

Đảo Đá Lớn A bao gồm ba "pháo đài' kiên cố kết nối với nhau bằng đường kè bê - tông vững vàng.

Con "đê biển" giống như con rồng khổng lồ, nổi một khúc thân oai hùng ở khu vực đảo Đá Lớn A khiến những người đến thăm không khỏi dấy lên một niềm tự hào, kính phục.

< Đảo có đầy đủ hệ thống điện chiếu sáng, điện phong, hệ thống pin năng lượng mặt trời.

Đá Lớn A có hệ thống cầu tầu để neo đậu tàu thuyền; chân kè vững chãi bám chắc trên nền san hô giữa đại dương...

< Hệ thống đường bê-tông kiên cố nối ba "pháo đài" của Đá Lớn A tựa như một con rồng khổng lồ nổi lên giữa đại dương.

Khu nhà lớn vừa được tôn tạo đẹp đẽ, uy nghi như một lâu đài giữa biển, có đầy đủ hệ thống cột đèn điện cao áp; cột điện phong, hệ thống pin năng lượng mặt trời, sân bay giành cho trực thăng...

"Pháo đài" Đá Lớn A cũng là ngôi nhà kiên cố của những cán bộ, chiến sỹ ngày đêm bám trụ giữ vững chủ quyền vùng đất, vùng trời, vùng biển thân yêu của Tổ quốc.

< Chân kè kiên cố bám trụ vững chãi trên nền san hô của đảo chìm.

< Cán bộ, chiến sỹ làm việc trên đảo Đá Lớn A.

< 'Tổng hành dinh' ở Đá Lớn.

< Sân bay trực thăng trên đảo.

Đảo Đá Lớn có 3 điểm chốt giữ, cán bộ và chiến sĩ hải quân đóng chốt trên 3 nhà kiên cố A, B, C so le nhau cách nhau khoảng vài hải lý trên nền bãi ngầm lớn. Thế chân kiềng vững chãi, tự bản thân Đá Lớn tạo ra, đã khiến quân và dân ta bảo vệ vững chắc khu vực này.

Theo Vietnamnet
Du lịch, GO!

Sự thật hải dương học: Hoàng Sa - Kỳ 6

(TTO) - Cùng với việc tuyển dụng các viên chức làm việc cho trạm hải đăng, trạm điện báo vô tuyến (TSF) và trạm khí tượng thường trú trên đảo Hoàng Sa, mục tiêu mà nhà cầm quyền Đông Dương hướng đến là đưa một nhóm người địa phương sống bằng nghề đánh cá và trồng trọt ra định cư ở vùng đất mới này.

< Đào giếng nước ngọt trên quần đảo Hoàng Sa, năm 1938.

Quy hoạch khu dân cư

Theo ông Raoul Sérène, ngày 13-10-1937, từ Đà Nẵng, toàn quyền Đông Dương đã gửi cho các nhà khoa học một bức điện tín đề cập đến các vấn đề nhằm đảm bảo điều kiện định cư cho người dân địa phương trên đảo Hoàng Sa. Báo cáo của ông Bellec - bác sĩ tàu La Marne - khẳng định môi trường sống ở đảo Hoàng Sa cũng như các đảo khác trong quần đảo rất trong lành, đảm bảo cho người dân cư trú lâu dài.

“Ghi chép về các khả năng tổ chức cuộc sống ở quần đảo Hoàng Sa” (1937) do ông R.Sérène soạn thảo cho thấy các nhà khoa học đã khảo sát đầy đủ về các vấn đề: quy hoạch khu dân cư, khu định cư cho ngư dân, lối vào đảo và các con đường đi lại trên đảo... Theo đó, địa điểm cư trú trên đảo cũng được xác định phải có khoảng cách phù hợp với cầu cảng, sân bay, thuận lợi cho việc tiếp nhiên liệu thường kỳ. Về quy hoạch dân cư, các nhà khoa học đã vẽ một bình đồ tổng thể tỉ lệ 1/4.000 (có đánh dấu các vị trí rạn san hô quan trọng có thể bảo vệ chống lại gió mùa đông) và một bản đồ mặt bằng trên đảo có tỉ lệ gấp đôi, để phân tích chi tiết và đánh dấu các vị trí nơi dự kiến cho người dân cư trú.

< Quang cảnh một buổi chào cờ trên đảo Hoàng Sa (1938).

Trong quy hoạch này có khu định cư riêng cho ngư dân bởi nguồn thực phẩm chính cho Hoàng Sa là các sản phẩm từ biển. Vì vậy, những người định cư trên đảo Hoàng Sa phải là nhóm cộng đồng người Việt sống bằng nghề đi biển. Cần cung cấp cho mỗi gia đình một đến hai thuyền mành và xây dựng cho họ những căn nhà kiên cố cùng với bến neo tàu. Các nhà khảo sát đã lập bản đồ đánh dấu vị trí làng sinh sống của những người đi biển và gia đình họ.

Về lối vào đảo và những con đường đi lại trên đảo, kết quả khảo sát cho thấy có hai luồng tự nhiên trong đầm để thuyền có thể cập vào đảo: một ở bờ nam và một ở bờ đông. Luồng vào bờ nam có ngọn hải đăng, rất nhiều thuyền đi lại nhưng nước thấp khi triều xuống (có thể cải tạo, ít tốn kém). Luồng ở bờ đông tránh được những con sóng đến từ phía nam, luồng lạch sâu và đã được cải tạo, có bến tàu rộng rãi xây bằng ximăng, tàu có thể cập được các mùa trong năm. Trên đảo có hai đường mòn hai bên đầy bụi rậm rộng khoảng 3-4 m dẫn đến hai luồng lạch nêu trên, cần thiết sẽ mở đường rộng ra.

Đảm bảo điều kiện sinh sống

Qua khảo sát, các nhà khoa học đã đề xuất các kiểu nhà, việc cung cấp vật liệu làm nhà, cung cấp nước ngọt và nhiên liệu, các nguồn thực phẩm bản địa và biện pháp phòng tránh bão. Các kiểu nhà, kho, xưởng phải chịu được sự công phá của các cơn bão thường kỳ quét qua đảo. Sẽ xây các kiểu nhà trệt, tuyệt đối không có lầu, chỉ có mái hiên trước, tường đá có độ dày phù hợp để quét ximăng. Mái nhà bằng gỗ hoặc kim loại, nền nhà đúc bằng bêtông và lát gạch vuông trên lớp nhựa đường. Tất cả cửa ra vào và cửa sổ phải được trang bị các khóa chốt có thể đảm bảo chịu được lốc xoáy.

< Vợ của các công chức trên quần đảo Hoàng Sa, năm 1940.

Vật liệu làm nhà chuyển từ đất liền ra rất khó. Tuy nhiên ở phía bắc đảo có một thảm đá vôi san hô có thể lấy làm vữa trét xây dựng nhà. Các nhà khoa học ước tính khối đá này khoảng 3.000m3. Nếu không đủ có thể khai thác từ mỏ đá cuội san hô ở bãi đông nam đảo Quang Hòa. Mặt khác, đảo Hoàng Sa, cũng như tất cả các đảo khác trong quần đảo Hoàng Sa, có nhiều tảng san hô chết có thể cung cấp lượng vôi đặc cực lớn, trộn cùng với cát hạt lớn thành vữa để trét xây dựng nhà. Việc vận chuyển ra đảo các vật liệu như sắt, cát, bêtông... để xây nhà sẽ tiến hành vào mùa biển lặng.

Cung cấp nước ngọt là một vấn đề lớn bởi không chỉ cho người dân sử dụng mà còn cần thiết cho canh tác. Có một vài vị trí khác nhau trong các rạn san hô vòng, qua nghiên cứu bước đầu, các nhà khoa học phỏng đoán có một tầng nước ngọt sạch. Sự phong phú về thảm thực vật trên đảo đã tăng thêm độ ẩm cho đảo để duy trì nguồn nước. Trong các chuyến khảo sát trước đó, một số giếng nước trong quần đảo Hoàng Sa đã được khoan. Ngay trên đảo Hoàng Sa cũng có một giếng lớn, thành giếng là một loại đá không thấm nước, có một cầu thang dẫn xuống để lấy nước. Giếng nước này khi khảo sát không sử dụng nên bị lá cây phân hủy lấp đầy. Các nhà khoa học cũng phát hiện một số hang có thể dẫn nước về cung cấp cho khu dân cư.

Cung cấp chất đốt cho người dân trên đảo cũng là một vấn đề quan trọng. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi thực hiện quy hoạch đảo Hoàng Sa phải phát quang bụi rậm và cây cối, các loại gốc thu hồi này bước đầu cung cấp được nguồn chất đốt trước mắt. Tiếp đó, nếu cần thiết có thể khai thác một số loại cây có khả năng hồi sinh nhanh ở một số đảo bên cạnh.


< Quang cảnh cơ sở hành chính trên quần đảo Hoàng Sa.

Về các nguồn thực phẩm bản địa, khảo sát cho thấy trên đảo có bảy, tám loài cây nhưng không có loài cây dùng làm thực phẩm được. Trái lại, nguồn thực phẩm từ hải sản rất lớn. Ngư dân từng đến Hoàng Sa khai thác rùa biển, sau khi đánh bắt họ chất thịt đầy trên thuyền mành của họ. Ngư dân còn khai thác hải sâm, trai tai tượng và các loài thân mềm. Họ còn dùng cả câu mành để bắt loài cá trong rạn san hô. Ở quần đảo Hoàng Sa còn nhiều loài rong chiết xuất được chất thạch màu trắng để sản xuất đồ uống và nấu canh rất ngon, được người dân các vùng Viễn Đông ưa thích. Tuy nhiên, để đảm bảo lương thực thực phẩm cho người dân trên đảo cần phải trồng trọt.

Các nhà khoa học lưu ý quần đảo Hoàng Sa rất giàu phosphat, đây là nguồn phân bón phục vụ việc trồng rau củ và các loại cây ăn quả như khoai, bắp, dứa, đu đủ và dừa. Đặc biệt dừa là loại cây cần trồng ở đảo Hoàng Sa và đảo Quang Hòa để tạo thêm cảnh quan đẹp. Để đáp ứng nhu cầu cư dân quy hoạch trên đảo, cần một diện tích trồng trọt khoảng 7.000a (1a= 100m2). Vấn đề khó khăn nhất là vận chuyển gạo đảm bảo nhu cầu dự trữ từ mùa này sang mùa khác cho người dân trên đảo.

Sau cùng về phòng tránh bão, vì quần đảo Hoàng Sa hứng chịu nhiều cơn bão từ Philippines nên nhà trên đảo cần được xây vững chắc và phải nằm ở vị trí trũng. Để bảo vệ khu dân cư trên đảo cần trồng một vành đai rừng phòng hộ rộng khoảng 20m.

< Ảnh chụp 2 người làm việc trên đảo Hoàng Sa.

Việc đưa dân định cư ra đảo sau đó được tiến hành nhưng Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra những năm sau đó khiến kế hoạch này dở dang.

Tìm nơi đáp thủy phi cơ và làm sân bay

Khảo nghiệm ngày 25-10-1937, hai chiếc thủy phi cơ từ Sài Gòn và Đà Nẵng đã đáp xuống vùng nước phía nam của đảo Hoàng Sa, trong giữa đầm nơi có các tàu neo đậu tránh gió, để tiếp nhiên liệu mà không gặp một trở ngại nào. Ngoài ra, theo thuyền trưởng tàu Kaufman, đầm rộng giữa rạn Hải Sâm là nơi đáp thủy phi cơ tuyệt vời.

Về sân bay, chuẩn đô đốc tàu Estiva cuối tháng 2-1937 đặc biệt chú ý đến mặt bằng trên đảo Hữu Nhật. Theo ông, mặt bằng đảo Hữu Nhật lý tưởng hơn, mặc dù vị trí dự định cho sân bay trên đảo Hoàng Sa ít phải đầu tư (Báo cáo của ông R. Sérène 1953 trong tài liệu lưu trữ tại Viện Hải dương học).

Hết
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6 ...

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Sự thật hải dương học: Hoàng Sa - Kỳ 5

Ngọn hải đăng chủ quyền

(TTO) - Ngày 26-10-1937, ngọn hải đăng đầu tiên được xây dựng trên quần đảo Hoàng Sa. Để thực hiện được công trình này, việc khảo sát được tiến hành rất công phu trước đó với sự tham gia của các nhà khoa học ở Viện Hải dương học.

Theo báo cáo chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa (tháng 10-1937) do ông Gauthier soạn thảo, lịch sử hàng hải ở biển Đông ghi nhận nhiều vụ tai nạn trong quần đảo Hoàng Sa. Năm 1895, tàu hơi nước Le Bellona của Đức bị đắm. Năm tiếp theo, tàu Imezi Maru của Nhật bị đắm. Năm 1910, tàu Colombo mắc cạn trong rạn san hô. “Cũng phải kể đến thời gian gần đây, tàu For Afric của Anh bị đâm thủng, nước vào hầm tàu, trong rạn Bạch Quy, may mắn là biển êm nên có thể đánh tín hiệu SOS chờ được tàu cứu hộ đến từ Hong Kong nhưng vẫn bị từ chối, cuối cùng tàu La Marne phải lai dắt tàu này về Đà Nẵng” - báo cáo viết.

Việc xây dựng hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa đã được tính đến từ năm 1899. Trong báo cáo của toàn quyền Đông Dương gửi bộ trưởng Bộ Thuộc địa ngày 20-3-1930 viết: “Tôi cũng nói thêm rằng Đông Dương còn có một lợi ích khác về việc làm chủ các đảo đó (quần đảo Hoàng Sa). Vị trí địa lý của đảo buộc các tàu từ Sài Gòn đi Hong Kong phải vòng ra xa để tránh những vùng có nhiều đá ngầm. Như ông De Monzie nêu trong bức thư mà ông đã vui lòng chuyển cho tôi, một trạm TSF (điện báo vô tuyến), dự báo những trận bão đặt trên các đảo đó, sẽ rất có ích cho hàng hải trong vùng nước Đông Dương.

Về vấn đề này, có lẽ không phải là vô ích nếu nhắc lại ngay từ đầu năm 1899, ông toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã yêu cầu các sở kỹ thuật của thuộc địa nghiên cứu việc xây dựng một ngọn hải đăng trên một trong các hòn đảo. Chỉ vì các lý do ngân sách đã gây cản trở cho việc thực hiện dự án này”.

Chọn địa điểm

< Bia chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng Sa, trên bia có khắc dòng chữ tiếng Pháp có nghĩa "Cộng hóa Pháp - Vương quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa 1816, đảo Hoàng Sa 1838.

Để khảo sát xây dựng hải đăng, tháng 10-1937, tàu La Marne tới quần đảo Hoàng Sa đã đánh dấu trên bản đồ những vị trí nguy hiểm, các lòng chảo và nơi các tàu bị đắm ở đảo Rạn Bắc, đảo Bông Bay và mũi góc đông nam của quần đảo. Báo cáo của ông Gauthier tường trình: “Nếu chiếu theo bản đồ có thể thấy được những tuyến đường hàng hải lớn đi qua quần đảo Hoàng Sa. Đó là tuyến Singapore - Hong Kong: nếu đi qua phía đông hoặc phía tây của quần đảo Hoàng Sa sẽ giảm được khoảng 20 hải lý trên tổng số chiều dài đoạn đường 1.440 hải lý.

Tuyến Sài Gòn - Hong Kong: nếu đi qua phía tây quần đảo Hoàng Sa sẽ giảm được 25 hải lý trên chiều dài đoạn đường 960 hải lý. Tuyến Hải Phòng - Manila: đi ra ngoài hành lang của đảo Hải Nam và đi bọc theo phía bắc hoặc phía nam của quần đảo Hoàng Sa, ví dụ như đi bọc ở phía nam quần đảo Hoàng Sa có thể giảm được 60 dặm trong số 900 dặm. Để hành trình không bị gián đoạn, chú ý đến các tuyến đường chính nơi có hai vị trí rạn ngầm nguy hiểm, nên cần thiết chỉ đặt hai đèn biển trong tổng số bốn cái ở Rạn Bắc và đảo Bông Bay”.

Ông Gauthier đề nghị cây đèn biển hình tháp dự kiến làm bằng kim loại, các phần sẽ được làm trước ở đất liền và phải tính đến khả năng vận chuyển từ đất liền ra, cần thiết phải sử dụng một tàu trọng tải lớn và đi hai chuyến vào thời gian từ tháng 11 đến tháng 6 (đây là thời kỳ gió mùa đông bắc và thời kỳ giữa hai đợt gió mùa nên biển lặng). Giai đoạn đầu sẽ tổ chức sắp xếp công trường xây dựng và xây dựng đê quai xung quanh để thi công phần móng công trình, giai đoạn hai là vận chuyển lắp ráp tháp kim loại, đặt đèn và vận hành thử. “Kiến trúc của ngọn hải đăng này có thể sẽ giống với ngọn hải đăng ở Cù Lao Ré (Poulo Canton), xây trên một bãi cát, độ cao của hải đăng là 50m, chiếu sáng đến 26 hải lý. Ngọn đèn sẽ là đèn tự động sử dụng năng lượng gas” - báo cáo của ông Gauthier viết.

< Trạm thu phát sóng đài radio và trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa (ảnh chụp năm 1940).

Việc lựa chọn địa điểm đặt hải đăng cuối cùng được cân nhắc giữa hai đảo Tri Tôn và Hoàng Sa. Việc đặt ngọn hải đăng trên đảo Tri Tôn, nơi có vị trí gần với bờ Đông Dương nhất, sẽ thuận lợi cho các tàu của Pháp. Thế nhưng, địa hình đảo Tri Tôn không ổn bởi đây là một đảo tròn, nổi đơn độc và cao, sóng lừng tấn công bốn mặt của đảo, các cơn sóng có thể ập vào phá hủy các tập đoàn san hô quanh đảo. Mặt khác, khi thủy triều xuống chậm, đầm ở giữa lộ ra và bên giữa đầm có các độ sâu không dưới 100m, vấn đề này sẽ cản trở tàu neo đậu tại bến Paul Bert cũng như việc bốc dỡ hàng hóa.

Các khảo sát về sau được thực hiện ở đảo Hoàng Sa. Đảo Hoàng Sa hoàn toàn có thể tiếp cận do hai con lạch dẫn vào ở mặt phía nam của đảo. Đảo này còn được thiên nhiên bảo vệ sự tấn công của sóng lừng phía đông bắc do rạn bảo vệ bao quanh rất rộng và tạo thành nơi trú ẩn trong gió mùa tây nam. Vị trí dự định đặt hải đăng nằm ẩn sâu ở trung tâm mặt phía tây của quần đảo.

Trong khi phía bắc được hạn chế bởi một eo biển sâu ngăn cách với đảo Hữu Nhật, đây là tuyến đường mà các tàu đến từ Đông Dương dễ dàng đi vào quần đảo. “Tóm lại, đặt một ngọn đèn biển ở góc phía nam của mũi tây quần đảo đôi khi sẽ điều khiển cả con lạch giữa các đảo Quang Hòa, Duy Mộng và con lạch ngăn đảo Quang Hòa với rạn Hải Sâm. Trong đêm tối, tàu thuyền có thể đi vào quần đảo dễ dàng từ các hướng” - ông Gauthier đề xuất.

< Trạm khí tượng thủy văn trên đảo Hoàng Sa thời Pháp thuộc.

Vì những lý do nêu trên, đoàn khảo sát thống nhất đệ trình lên toàn quyền Đông Dương việc xây dựng ngọn hải đăng ở đảo Hoàng Sa thay vì tại đảo Tri Tôn trong quần đảo Hoàng Sa.

Hoàn thành

Theo báo cáo của ông Raoul Sérène (1953) trong tài liệu lưu trữ tại Viện Hải dương học, vào ngày 26-10-1937, tàu Paul Bert và tàu Astrolabe đã vận chuyển người và vật liệu phục vụ công trình xây dựng đèn biển. Công việc lắp đặt đèn, các cọc hoa tiêu do kỹ sư Martinet chỉ huy và mọi việc giám sát do ông Don Carli - trưởng máy tàu Paul Bert - đảm nhiệm. Sau bốn ngày làm việc cật lực cả ngày lẫn đêm, thủy thủ đoàn tàu La Marne kết thúc công việc lắp đặt. Để phục vụ công trình, 70 tấn vật liệu đã được vận chuyển ra quần đảo Hoàng Sa, trong đó có 6 tấn kim loại.

Cột hải đăng được đúc bằng bêtông đứng trên một dải cát san hô, đã được tính toán chịu được gió lốc xoáy (300 kg/m2). Ngọn đèn sẽ cháy thường xuyên liên tục trong sáu tháng bằng gas xúc tác, nhiên liệu chứa trong một bộ gồm mười ống kim loại được thiết kế bên trong cột tháp. Độ chiếu sáng của hải đăng là 12 hải lý trong điều kiện thời tiết bình thường. Với kích cỡ của tháp, nếu cần thiết có thể chiếu xa thêm 2 hải lý bằng cách thêm nhiên liệu sử dụng. Khi ngọn hải đăng được thắp sáng, tàu bè dễ dàng đi lại giữa các rạn trong nhóm đảo Lưỡi Liềm.

Bằng radio Kienan, thuyền trưởng tàu La Marne đã thông tin cho Service Maritime và các nhà hàng hải về việc đã đặt ngọn hải đăng trên đảo Hoàng Sa.

Trạm TSF và trạm khí tượng

Theo ông Raoul Sérène, sau chuyến khảo sát Hoàng Sa trở về, ông Bonnaire đã có thảo luận với đại tá Galin - giám đốc Sở Vô tuyến Đông Dương và ông Galin kết luận rằng cần thiết đặt một trạm sóng ngắn nối thông tin giữa đảo Hoàng Sa và đất liền. Ông Galin cũng đề xuất sơ đồ xây dựng trạm vô tuyến phục vụ một phần cho công tác của trạm khí tượng. Liên quan đến vấn đề này, ông Bruzon - giám đốc Trạm quan trắc Phù Liễu - khẳng định việc thành lập trạm khí tượng rất quan trọng vì sẽ cung cấp thông tin thường xuyên về thời tiết, bão ở biển Đông. Dự kiến hai viên chức được tuyển dụng với chế độ ưu đãi, một về radio và một về khí tượng, sẽ đảm nhiệm các công việc này trên đảo, đồng thời kiêm nhiệm việc bảo dưỡng ngọn hải đăng.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014

Sự thật hải dương học: Hoàng Sa - Kỳ 4

(TTO) - Dưới đây là những trang nhật ký viết từ các đảo ở Hoàng Sa, được trích trong báo cáo “Chim biển ở quần đảo Hoàng Sa” của hai nhà nghiên cứu Jean Delacour và Pierre Jabouille (công bố năm 1928-1929), cùng ghi chép của ông Raoul Sérène về cảnh quan trên các đảo (soạn thảo năm 1937).

Ông Delacour là nhà nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Pháp, được cử sang nghiên cứu Đông Dương những năm 1925-1930. Ông Jabouille là công chức quản lý của Sở Công chánh Đông Dương, cộng tác viên của Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Pháp và ông Sérène là nhà nghiên cứu của Viện Hải dương học những năm 1930-1952.

Nhật ký của J. Delacour và P. Jabouille

“Đảo Tri Tôn, ngày 29-6.

Chúng tôi đã thu thập được một chim mái và hai chim trống loài nhàn nâu... Nhóm chim nhàn được tìm thấy ở vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và đôi khi cũng bắt gặp ở ven biển châu Âu. Nhàn nâu được phân biệt với các loài nhàn khác bởi đuôi rất dài, chẻ hai rất sâu, lông cánh và đuôi có hai màu khác nhau. Chúng bơi kém, đi khó khăn do chân ngắn, nhưng cũng giống như các loài nhàn khác, chúng bay rất nhanh và mạnh”.

“Đảo Phú Lâm, những ngày đầu tháng 7.

Đảo được bao phủ bởi tổ của loài nhàn trắng. Chúng ở trên những cây có lá rộng rất phổ biến ở đảo này, ở độ cao khoảng 4-5 m, đa số là chim non. Chúng tôi rất dễ dàng bắt được năm con chim trưởng thành vì chúng không có tỏ vẻ gì sợ hãi con người. Một nhà khoa học trong chuyến khảo sát là ông Chevey đã lấy một tổ để trên tay và chụp hình.

Loài nhàn trắng này có tên niais, có thể phân biệt với các loài nhàn khác nhờ màu sắc đậm, cánh thấp và nặng. Chúng sống giữa biển, nằm trên mặt nước, ăn những loại động vật thân mềm hay xác cá chết trôi”.

“Nhóm đảo An Vĩnh và Tri Tôn, những ngày đầu tháng 7.

Chúng tôi đã thu thập được ba con chim mái và một chim trống loài nhàn mào. Khi trưởng thành loài chim này có lông đầu toàn màu đen, ngược lại chim mái khi còn nhỏ có những chấm màu trắng phần trước trán. Loài này được biết đến bởi ông Tirant, vào năm 1875. Ông cho rằng không tìm ra loài chim này ở Vũng Tàu. Thế nhưng ở Nha Trang, người dân địa phương nói rằng loài chim này xuất hiện vào những thời điểm trùng hợp với sự xuất hiện của những đàn cá cơm, rất phổ biến ở vùng biển ven bờ VN, thường dùng làm nước mắm”.

“Đảo Phú Lâm, các ngày 2, 3 và 4-7.

Vào thời điểm mà tàu De Lanessan cập đảo, các loài chim điên chân đỏ làm tổ trên những cành cây thấp khoảng ngang đầu người, trên tổ có rất nhiều chim non. Những con chim nhàn cùng làm tổ trên đảo này, tránh ở gần loài chim điên chân đỏ và luôn giữ một khoảng cách an toàn. Vả lại cũng nên biết rằng một số loài chim biển rất giống nhau trong việc bảo tồn giống nòi, biết lợi dụng ưu thế để sống ký sinh gây hại cho loài khác kém khỏe mạnh hơn. Như các loài nhàn bị theo đuổi bởi các loài niais (Anous). Chúng thường nôn ra những con cá mà nó vừa nuốt, như vậy các loài niais tự nó là nạn nhân cho những con chim điên chân đỏ. Và đến lượt, những con chim điên chân đỏ này lại bị hành hạ bởi những con cốc biển. Có một con chim điên chân đỏ già và bị mù - những thành viên trên tàu De Lanessan đã chụp hình - luôn ở gần biển nơi mà đồng loại sẽ giúp nó thức ăn.

Chim điên chân đỏ được ghi nhận lần đầu ở Đông Dương vào năm 1925, khi được các ngư dân Cửa Việt (Quảng Trị), sau một cơn bão, đã cung cấp một con chim mái còn nhỏ”.

“Đảo Lin Côn, ngày 2-7.

Một thợ săn trong đoàn thám hiểm đã bắt được con cốc đực biển còn non, chiều dài cánh đo được 510mm. Nó có mống mắt màu nâu, mỏ màu sừng sáng, chót đen và chân có màu sừng trắng. Chúng thường xuất hiện nhiều và bay lượn trên các đảo. Đây là loài chim bay rất mạnh. Chúng bay lượn trên không thành một vòng rộng, đôi cánh rất ít chuyển động. Sự linh hoạt trong cách bay cho phép chúng đuổi theo các con chim điên chân đỏ, chim mòng biển, bắt những con này phải nôn ra những con cá hay những con mồi vừa bắt được. Mỏ chúng quặp lại làm cho chúng có vẻ tham mồi. Chúng sống ký sinh, dù rằng cũng bắt được cá chuồn bay, một loại cá mà chúng rất ưa thích. Ngược lại với phần đông chim biển khác, những con cốc biển ít khi nằm trên nước và không lặn được. Chúng chỉ bắt cá trên bề mặt nước và các loài hải sản khác, đôi khi là những con rùa non”.

Qua khảo sát của hai nhà nghiên cứu J. Delacour và P. Jabouille, ở quần đảo Hoàng Sa có tám loài chim, gồm bảy loài chim biển: nhàn nâu, nhàn mào, nhàn Sumatra, nhàn trắng, chim điên chân đỏ, chim điên chân đỏ bụng trắng, cốc biển đen và một loài chim đất liền là vành khuyên.

Ghi chép của R. Sérène

“Từ bờ biển Đông Dương có thể thực hiện chuyến du lịch tuyệt vời hai đến ba ngày đến quần đảo Hoàng Sa. Trái ngược với quang cảnh hùng vĩ của những khối đá ở vịnh Hạ Long, ở đây có những rạn san hô chìm quý hiếm và kỳ thú, cũng hấp dẫn bởi nguồn gốc của sự tạo thành và địa hình đa dạng của chúng, cũng như vẻ đẹp lạ lùng của làn nước biển bao quanh và phủ lên chúng.

Vả lại, chỉ cần làm một chuyến đến đảo Lưỡi Liềm, cập vào bãi trong, một trong các đảo và đi dọc các đảo Rạn Bắc, để có một ý tưởng chính xác về khu vực kỳ lạ này, nơi các con quỷ dữ vật lộn không mỏi mệt chống lại bức tường khổng lồ, chìm dưới làn nước trong suốt là những bồn hoa đẹp nhất mà ta có thể tưởng tượng được.

Ấn tượng càng sống động hơn khi đến quần đảo Hoàng Sa, không như người ta đoán từ xa, cũng như dự báo của những vệt hiện lên từ đường chân trời. Vì vậy, sự bất ngờ xuất hiện giữa mênh mông một màu tím ngắt - đảo Phú Lâm - với đường viền chìm sáng chói và vành đai xanh nhạt của đầm nước. Tiếp theo là các rạn vòng, không có chỗ nổi lên ở bên trong, một hàng rào tuyết bọt biển trắng xóa bao quanh các hồ nước yên tĩnh và lấp lánh màu xanh ngọc làm người ta mơ mộng đến các làn sóng nhấp nhô trên cánh đồng lúa mênh mông. Cuối cùng, các khối đá chìm hùng vĩ, dường như thẳng đứng từ độ sâu hàng trăm mét, được các con sóng ào ạt đổ ụp vào thềm lục địa được bao phủ bởi làn nước màu xanh lục.

Nếu chúng ta rời tàu và lên một trong những hòn đảo của quần đảo ở phía bờ biển khuất gió bằng thuyền, người ta còn ngạc nhiên hơn nữa. Ta nhận thấy xuyên qua lớp nước trong xanh như pha lê, từng chi tiết các san hô sống mà sự đa dạng về màu sắc và hình thái làm ta liên tưởng đến các khu vườn ở thiên đường, nơi hội tụ những kỳ hoa dị thảo đẹp nhất trên Trái đất. Khi neo thuyền bên các rạn san hô, ta có thể thấy hàng đàn cá màu sắc sặc sỡ mà các vạch sọc làm ta có cảm tưởng như có hàng bó dải lụa dài màu vàng lộng lẫy trôi theo dòng nước biển.

Vào trong đầm nước với các cảm xúc thể thao khi di chuyển qua các khối đá nâu của các con lạch khúc khuỷu, ta còn bắt gặp nhiều sự ngạc nhiên khác. Quả nhiên, có thể thu lượm được rất nhiều loại san hô. Trên mặt đất, bộ sưu tập của ta có thể được hoàn chỉnh thêm bằng cách lựa chọn những vỏ ốc bị sóng biển ném lên bờ, mà những loại này không thể tìm thấy ở ven biển lục địa.

Thêm vào những điều ngạc nhiên trên, những bãi biển kỳ thú là nơi những con rùa biển khổng lồ để lại dấu vết khắp nơi trên cát và vô số chim biển đến nghỉ ngơi sau khi bắt cá”.
Một ngọn hải đăng trên quần đảo Hoàng Sa được tính đến từ năm 1899, vừa giúp an toàn hàng hải vừa hướng đến mục tiêu xác định chủ quyền.

“Sự gần gũi của quần đảo Hoàng Sa với bờ biển Đông Dương bắt buộc chúng ta phải thận trọng và chúng ta không thể chấp nhận sự có mặt ở đây của các thế lực nước ngoài, mà chương trình bành trướng của họ có thể gây nguy hại đến thuộc địa Đông Dương của chúng ta” (Trích báo cáo của ông R.Sérène, quyền viện trưởng Viện Hải dương học, gửi toàn quyền Đông Dương năm 1953)

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Sự thật hải dương học: Hoàng Sa - Kỳ 3

(TTO) - Chuyến khảo sát thứ hai của tàu De Lanessan tại Hoàng Sa, vào tháng 6 và 7-1926, tìm thấy mỏ phosphat được tạo bởi phân chim trên các đảo. Đó là nguồn phân bón có thể cung cấp cho cả nền nông nghiệp Đông Dương trong 20 năm.

< Hải đăng Việt Nam trên đảo Hoàng Sa thời Pháp thuộc.

Nhiều kẻ nhòm ngó

Theo ghi chú của Vụ Các vấn đề chính trị và bản xứ, Phủ toàn quyền Đông Dương, ngày 6-5-1921, một nhóm người Trung Quốc đã tìm cách thăm dò chúng (tức quần đảo Hoàng Sa) về khả năng khai thác các lớp phosphat phong phú.

Cũng theo tài liệu trên, tháng 9-1920 một công ty hàng hải của Nhật là Mitsui - Bussan Kaisha đã hỏi nhà cầm quyền Pháp trước khi khai thác phosphat trên vài đảo nhỏ, ở quần đảo Hoàng Sa. Sau đó, việc khai thác của công ty này phải bỏ dở vì vận chuyển phosphat về đất liền khá khó khăn trong điều kiện lúc bấy giờ.

Phosphat lộ thiên trên các đảo ở Hoàng Sa đã được biết đến từ trước bởi các nhà hàng hải qua đây. Nó là nguồn lợi được nhiều thế lực nhòm ngó. Thế nhưng chưa bao giờ nó được khảo sát, nghiên cứu đầy đủ để phục vụ tính khả thi của việc khai thác. Việc làm đó chỉ được tiến hành bởi một đơn vị của quốc gia sở hữu quần đảo này. Và đó là nhiệm vụ của tàu De Lanessan trong chuyến đi lần thứ hai ra Hoàng Sa.

Đưa phân chim đến phòng thí nghiệm

Tại các đảo, các nhà khoa học đã tập trung khảo sát những lớp phân chim dày đang phân hóa. Mẫu vật thu thập được đưa về Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương nghiên cứu và chuyển đến phòng thí nghiệm hóa học ở Sài Gòn. Các phân tích ở phòng thí nghiệm đã làm rõ cơ chế hình thành nên phosphat ở Hoàng Sa, giúp TS Armand Krempf kết luận nguồn gốc đất trên đảo ban đầu được cấu tạo bởi carbonat canxi.

< Khai thác phosphat tại Hoàng Sa năm 1940.

Theo báo cáo năm 1927-1928 của Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương, TS A.Krempf nhận định: chính trên chất đất rất nghèo và rất đặc biệt đó đã hình thành những khu rừng bao phủ lên các đảo. Những khu rừng này phát triển được là nhờ những hạt từ miền xa trôi đến và phân chim biển trú đêm trên các đảo thải ra đất. Phân chim biển đã cung cấp cho đất axit phosphoric nhờ trong thức ăn của chúng chủ yếu là cá và các loại hải sản.

Qua so sánh với nhiều nơi trên thế giới, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra quá trình hình thành phosphat riêng ở Hoàng Sa. “Nếu khí hậu của quần đảo Hoàng Sa vốn ẩm, mưa nhiều mà lại hanh khô như các đảo ở Chile và Peru phủ đầy chất guano (phân chim) thì axit phosphoric ở đây sẽ ở trạng thái chất guano bình thường như trong các mỏ phân khá quen thuộc ở các vùng biển Thái Bình Dương của Nam Mỹ. Thế nhưng ở quần đảo Hoàng Sa, do trong đất rừng các đảo này nhiều nước nên axit phosphoric bị hòa tan và các phosphat khi được giải phóng ra thấm vào đất gặp carbonat canxi giữ lại, đồng thời phóng thích axit cacbonic. Như vậy, sự chuyển hóa đó phát triển từ trên mặt đất xuống dưới sâu” - TS A.Krempf phân tích.

Mở hướng khai thác

Câu chuyện phosphat được trở lại vào chuyến đi thứ ba của tàu De Lanessan ra Hoàng Sa vào tháng 5 và 6-1931. Chuyến tàu này mang theo vị khách mời đặc biệt là kỹ sư M.Clerget, một chuyên gia mỏ, để có thể thực hiện việc khảo sát mỏ phosphat một cách đầy đủ hơn.

Theo báo cáo của Viện Hải dương học, năm 1930-1931, hơn 1 tấn mẫu phosphat được đưa về Đà Nẵng bằng tàu lưới kéo của tàu De Lanessan để ông Maurice Clerget phân tích. Những kết quả đầu tiên của nghiên cứu ấy cho biết ở Đông Dương số lượng quặng ấy có thể lên tới 8 triệu m³. Chỉ có một khó khăn lớn đó là vấn đề vận chuyển. “Trong tháng 6 vừa qua, chúng tôi đã quan sát thấy rằng công ty Nhật Bản đã bỏ không khai thác phosphat nữa và trữ lượng bỏ ấy đã được một công ty Trung Quốc lấy đem đi bằng tàu chở hàng đến Hong Kong không khó khăn gì. Vấn đề khó khăn là đưa lên tàu một khối lượng vận chuyển lớn và cồng kềnh, trong vùng biển Đông thường xuyên có gió mùa, dễ gặp phải nguy hiểm khi đụng đá ngầm là chướng ngại vật chìm trong nước. Về mặt này những kinh nghiệm của thủ thủy tàu De Lanessan trong hai lần đi nghiên cứu các đảo Hoàng Sa sẽ là thông báo quý báu cho tất cả những ai muốn thử khai thác những lớp quặng rất phong phú ấy ở Đông Dương” (trích báo cáo của Viện Hải dương học năm 1930-1931).

< Giếng nước ngọt do người Pháp và Việt xây trên đảo Hoàng Sa.

“Trong số những kết quả đã thu thập được ở quần đảo Hoàng Sa, nơi đã nghiên cứu vào tháng 6-1931, cần lưu ý là trong đó có một số kết luận của M.Clerget, người cùng cộng tác với chúng tôi, kỹ sư mỏ thuộc dân sự... Theo kết quả nghiên cứu, dự trữ về quặng phosphat dự tính ít nhất 1 triệu tấn có thể cung cấp phosphat canxi cho toàn Đông Dương trong 20 năm. Hơn nữa quặng ở đây gồm một tỉ lệ khá lớn phosphat hòa tan, như thế về mặt nông nghiệp rất có lợi. Các chuyên gia được hỏi ý kiến về vấn đề này cũng thống nhất như vậy” (trích báo cáo của Viện Hải dương học năm 1931-1932).

Khả năng khai thác phosphat năm năm sau đó được nhắc lại lần nữa, sau khi các nhà khoa học đến quần đảo Hoàng Sa bằng tàu La Marne vào tháng 10-1937. Trong đề xuất các định hướng khai thác và quản lý tài nguyên ở Hoàng Sa của Viện Hải dương học, cùng năm đó, các nhà khoa học cho rằng: “Việc khai thác phosphat rất dễ dàng, chỉ cần lao động chân tay. Ngược lại, việc vận chuyển sản phẩm khai thác lại rất khó khăn. Ông Dauguet, thuyền trưởng của tàu De Lanessan, cho rằng đôi khi người ta phải mất 9-10 ngày để chất đầy một khoang tàu 1.600 tấn. Tuy nhiên, có thể tự hỏi liệu có thể đạt được kết quả tốt nhất bằng cách tổ chức các công trường khai thác hoạt động trên đảo trong tất cả các mùa và hạn chế vận chuyển trong giai đoạn gió đổi mùa, từ tháng 3 đến tháng 6...”.

Hi vọng nguồn khoáng Hoàng Sa

“Do nguồn axit phosphoric của khoáng sản Bắc bộ nghèo nàn, nền nông nghiệp Đông Dương đòi hỏi phải sử dụng đúng đắn phân hóa học như một phương thức cứu nguy nền nông nghiệp, đang đe dọa bởi sự cạnh tranh của các nhà sản xuất khác ở châu Á. Vả lại chúng ta không thấy được mỗi năm xuất khỏi Đông Dương vài chục ngàn tấn axit phosphoric nằm trong những hạt lúa xuất khẩu. Mối ưu tư trong quản lý tài sản của chúng ta, như người cha trong gia đình, bắt buộc chúng ta phải hoàn trả cho đất Đông Dương lượng phân bón mà đất bị nghèo đi mỗi năm.

Phân bón hóa học từ thiên nhiên hiện có được ở Đông Dương trên thềm lục địa được chia làm ba nhóm: những nguồn khoáng trong các hầm mỏ ở miền Bắc VN và Campuchia (nguồn khoáng do canxi hóa chất vôi, nguồn gốc từ khoáng vật), những nguồn khoáng từ quần đảo Hoàng Sa (nguồn khoáng canxi hóa san hô, nguồn gốc hữu cơ), những nguồn khoáng đang dò tìm trong thung lũng sông Hồng ở vùng Lào Cai, phát sinh tùy vào đá núi lửa (khoáng chính là apatite).

Mong muốn những thử nghiệm thực tế về phân bón khoáng sản mở đầu cho chuyến nghiên cứu năm 1931-1932 bởi Văn phòng lúa gạo Đông Dương đem lại hi vọng cho sự phát triển trong tương lai việc khai thác phosphat tại Hoàng Sa”.
(Theo tài liệu Đề xuất các định hướng khai thác và quản lý tài nguyên ở Hoàng Sa của Viện Hải dương học, năm 1937)

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

Sự thật hải dương học: Hoàng Sa - Kỳ 2

(TTO) - Chuyến đi đầu tiên của tàu De Lanessan đưa các nhà khoa học của Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương đến quần đảo Hoàng Sa vào tháng 6-1925, bắt đầu nghiên cứu sự kiến tạo địa chất kỳ diệu của quần đảo này.

Đến vùng đảo hoang vắng

Khi các nhà khoa học đặt chân lên các đảo ở Hoàng Sa, chào đón họ chỉ có các loài chim trời. Thảng hoặc họ mới bắt gặp những người đi biển dài ngày ghé lên đảo. Ấn tượng đó, sau này được TS P. Chevey kể lại trong báo cáo của Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương năm 1925-1926: Chúng tôi chỉ thấy có một ít thuyền buồm đến những đảo nhỏ hoang vắng này để đánh bắt rùa biển, trai biển khổng lồ (tridacna), hải sâm và các loài hải sản khác mà người ta chỉ thấy trên những đảo san hô.

Thật ra, đấy không phải là những thuyền buồm của người chuyên đánh cá đến để khai thác hải sản trên dải đá ngầm của quần đảo Hoàng Sa. Đây là những nhà hàng hải mà hằng năm chúng tôi vẫn thấy họ qua lại vào thời gian gió mùa. Trong khoảng thời gian gió mùa đó, mọi hoạt động hàng hải đều bị cấm, họ đến đây để làm giảm bớt nỗi buồn bã của mùa “chết” này bằng cách tranh thủ đánh cá trên những dải đá ngầm của quần đảo xa xôi”.

Trước sự kiện tàu De Lanessan đến đây, theo “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của Monique Chemillier - Gendreau, từ năm 1881-1884, người Đức từng tiến hành nghiên cứu có hệ thống tình hình thủy văn của quần đảo Hoàng Sa mà không có một trong những yêu sách nào đi theo. Vì thế, cuộc khảo sát của Sở Hải dương học nghề cá được coi là hoạt động khoa học đầu tiên thể hiện chủ quyền của Việt Nam (thuộc Pháp) trên quần đảo Hoàng Sa.

Thám sát thềm lục địa

Cách thức thám sát thềm lục địa được TS P. Chevey mô tả: “Những phương pháp chiếu sáng đáy biển mà chúng tôi sử dụng trong khi nghiên cứu đã cho phép quan sát được địa hình đáy biển những vùng này, cũng như những khối lớp không đều đặn của các đảo và vùng trũng sâu bao phủ dày cát và cuội san hô, nếu như chúng tôi có thể đi đến giữa những chỗ đó”.

Tàu De Lanessan đã thực hiện hàng loạt phương pháp thăm dò và kéo lưới cào để khảo sát thềm lục địa. Qua đó, các nhà khoa học đã tìm thấy sự hình thành nền quần đảo Hoàng Sa. “Chúng tôi đã phát hiện thấy sự kiến tạo dưới biển quan trọng trong đợt nghiên cứu vừa mới tiến hành ở khối đảo cách ly ở giữa biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa - TS P. Chevey thuật lại - Qua những thăm dò ở thềm lục địa quần đảo Hoàng Sa mà ở đó có những đá ngầm và đảo nhỏ nhô lên, chúng tôi đã xác lập được rằng đáy biển này sâu từ 40-100m, được tạo nên từ những nguyên liệu thuộc nhóm cuối cùng bởi các trầm tích san hô. Đó là một bề mặt mà địa hình thuộc thời kỳ băng hà bị nước biển bao phủ sau lần tan băng cuối cùng, sau đó dần dần tách khỏi bờ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho san hô phát triển. Ngày nay nó được bao phủ bởi một lớp san hô đang sống, cát và cuội san hô”.

“Chúng tôi lại thấy thềm lục địa này ở ven bờ biển Đông Dương, tại chân núi Trường Sơn cũng như ở cao nguyên dưới biển của quần đảo Hoàng Sa. Ở đây, nó nhô lên như một đảo cách ly ở giữa vùng nước biển Đông và các tảng đá ngầm của nó, hầu như dựng đứng, đột nhiên lại tụt xuống sâu hàng nghìn mét” (Báo cáo của Sở Hải dương học nghề cá, năm 1925-1926).

Cao nguyên đáy biển

Từ quá trình khảo sát thềm lục địa, các nhà khoa học nhận thấy quần đảo Hoàng Sa với 36 đảo lớn nhỏ có thể nổi hoàn toàn khi triều cao (và một số khác thường xuyên chìm trong nước) là nhờ đứng trên một... cao nguyên mà các nhà khoa học gọi là “cao nguyên đáy biển”. “Cao nguyên đáy biển của quần đảo Hoàng Sa xuất hiện đột nhiên giữa biển Đông cách đáy biển hàng nghìn mét và nhô lên dưới mặt nước biển từ 40-100m bởi một vách đá hầu như thẳng đứng đến tận đáy biển”- báo cáo của TS P. Chevey mô tả. Sự hình thành cao nguyên đặc biệt này - theo kết luận của các nhà khoa học - “có cùng nguyên nhân địa chất xảy ra ở các bậc thềm khác nhau ở một vùng độ sâu và những bậc thềm nằm song song với đường bờ dọc theo các vùng duyên hải của Đông Dương”.

Cùng với kết luận này, nghiên cứu “Hình dạng các đảo san hô ngầm và chế độ gió” của TS A.Krempf (công bố năm 1927) cho thấy đầy đủ quá trình hình thành các đảo ở Hoàng Sa từ địa chất đến hình dạng. TS P. Chevey, trong báo cáo năm 1930-1931, đã kể lại: “Trong năm 1926, chúng tôi đã thăm đảo đá ngầm rất đẹp Decouverte, hình thái cấu tạo của nó chứng minh rõ ràng ảnh hưởng của gió mùa tới sự hình thành của các đảo san hô. Trong đảo ngầm này có hai tập đoàn phát triển về hai hướng nghịch nhau đông bắc và tây nam, ở phần đỉnh của những dải này có hai lối vào các vùng tại giữa đảo san hô này chưa khép kín.

Hai đảo đá ngầm ấy, đảo ngầm Chim Yến và đảo ngầm Bắc, là một vùng đã nổi lên từ rất lâu. Đảo ngầm Chim Yến có dạng hình vòng đầy đủ, nhưng bờ ở phía đông bắc dày hơn vùng bờ phía tây nam, như vậy chứng tỏ gió mùa đông ảnh hưởng lên sự tiến hóa của đảo. Do đó, vùng giữa đảo đi lệch tâm và đẩy về phía tây nam. Tuy nhiên, ở phía tây bắc có một vùng san hô rất mỏng và không nổi lên, mặc dù không bị ngắt quãng nhưng những thuyền nhỏ có thể đi vào vùng bên trong được. Tại đây có một dải màu xanh khá đặc biệt của những đảo san hô do phản chiếu những tia nắng mặt trời trên nền cát trắng ở bờ vụng qua lớp nước mỏng xa bờ một chút. Chắc chắn vị trí này không phải giải thích như là một chỗ nối không hoàn toàn những đầu bờ của hai tập đoàn san hô đang phát triển mới tách rời nhau và bấy giờ nối lại với nhau gần như đã kết thúc. Ở đây có dấu tích một con lạch cũ trong vụng”.

Quần đảo Hoàng Sa như vậy đã cung cấp cho chúng ta một dẫn chứng rõ ràng về những giả thiết của A.Krempf đã đặt ra từ nhiều năm trước đây. Từ năm 1921, ông đã mô tả ba vòng đảo san hô Decouverte tiến hóa nhất, đảo ngầm Chim Yến thì ngược lại, tạo thành một vòng san hô khép kín”.

7 chuyến khảo sát hải dương học tại Hoàng Sa (1925-1953)

* Tàu De Lanessan có bốn chuyến khảo sát: tháng 6-1925, tháng 6 và 7-1926, tháng 5 và 6-1931, tháng 10-1935.
* Tàu La Marne: tháng 10-1937.
* Tàu Marine National: tháng 4-1949.
* Tàu La Charante: tháng 7-1953.

Các kết quả nghiên cứu được công bố trong các báo cáo thường niên của Viện Hải dương học và trên một số tạp chí khoa học và sách trong giai đoạn 1927-1957 (Theo báo cáo của Viện Hải dương học tại Hội nghị quốc tế biển Đông năm 2012: 90 năm các hoạt động hải dương học trên vùng biển VN và lân cận).

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Sự thật hải dương học: Hoàng Sa - Kỳ 1

(TTO) - Những trang tư liệu hải dương học đầu thế kỷ 20 đã khẳng định: Hoàng Sa là của Việt Nam...

Hoàng Sa - Việt Nam!

Việc Trung Quốc cho rằng giàn khoan Hải Dương 981 được đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của họ là một sự bịa đặt và không có căn cứ pháp lý. Lợi dụng những khó khăn và biến động ở Việt Nam, quân đội Trung Quốc đã xâm chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực.
Trước đó, quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Những trang tư liệu hải dương học đầu thế kỷ 20 đã nói rõ điều này...
Công cuộc khảo sát và khai thác quần đảo Hoàng Sa những năm đầu thế kỷ trước in đậm dấu ấn con tàu hải dương học đầu tiên ở Việt Nam.

Từ Bordeaux...

Theo tài liệu “Viện Hải dương học Đông Dương” của TS Armand Krempf (xuất bản năm 1931), con tàu này được bàn giao cho Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương vào ngày 21-6-1924 tại cảng Bordeaux (Pháp). Đó là con tàu chạy bằng hơi nước được chuyển đổi công năng để phục vụ việc thám sát biển dài ngày.

Tàu mang tên De Lanessan nhằm ghi nhớ về vị bác sĩ hải quân Jean-Marie de Lanessan, một nhân vật đặc biệt trong giới khoa học và chính trường nước Pháp. De Lanessan tốt nghiệp đại học y khoa tại Bordeaux, học tiếp ở Trường Hải quân Rochefort (nơi ông làm trợ lý bác sĩ phẫu thuật), rồi trở thành bác sĩ trong hải quân với tám năm lênh đênh trên các vùng biển châu Phi và Đông Dương. Năm 1870, ông rời lực lượng hải quân để nghiên cứu y học và tự nhiên học, rồi trở thành giáo sư tại Đại học Khoa học Paris. Chín năm sau, người ta thấy ông hoạt động chính trường với tư cách một ứng cử viên độc lập ở hội đồng thành phố Paris. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm toàn quyền Đông Dương (1891-1894), trước khi giữ chức bộ trưởng Bộ Hải quân trong nội các Waldeck-Rousseau (1899-1902).

Tàu De Lanessan có trọng tải 750 tấn, dài 45m, mặt boong rộng 7,63m, mớn nước 4,45m, công suất 350CV. Nó được trang bị lưới quét cùng nhiều máy móc hiện đại, theo đề án gửi về Paris của TS A. Krempf, giám đốc Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương lúc bấy giờ. Việc nghiên cứu biển và các quần đảo giữa trùng khơi biển Đông khi đó cấp thiết phải có một chiếc tàu lớn. Vì thế sau khi chạy thử thành công ở cảng Bordeaux, lập tức con tàu được bàn giao cho Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương, để lên đường sang Việt Nam.

Đến Hải Phòng

Sở Hải dương học nghề cá Đông dương (Service océanographique des pêches de l’Indochine) được thành lập theo quyết định của ông Baudoin - toàn quyền Đông Dương, trước đó gần hai năm (vào ngày 14-9-1922). Trụ sở được đặt tại Nha Trang, một thành phố xinh đẹp ở miền Trung Việt Nam, nơi mà nhà bác học Alexandre Yersin danh tiếng chọn để gắn bó đời mình. Theo những tài liệu lưu trữ tại Viện Hải dương học, TS A. Krempf - nguyên giám đốc Viện Khoa học Đông Dương - nhận lãnh trọng trách giám đốc sở này ngay thời điểm vạn sự khởi đầu nan. Dưới sự chỉ huy của ông, ngay sau khi sở này thành lập, tại khu đất cao bên bờ biển luôn ngập nắng miền nhiệt đới, rộng đến 20ha, kéo dài từ phía bắc cảng Cầu Đá lên tới lầu Bảo Đại, đã mọc lên những nhà xưởng đầu tiên.

Từ đây có thể phóng mắt ra một vùng biển rộng mênh mông. Biển ven bờ ở nơi này thuộc loại sâu nhất ở Việt Nam, rất gần với hải phận quốc tế và vùng trung tâm biển Đông. Đây cũng là nơi gặp gỡ của hai dòng hải lưu nóng - lạnh, một từ phương bắc xuống và một từ xích đạo ngược lên, tạo nên một môi trường lý tưởng cho nhiều loài sinh vật biển định cư, đặc biệt là các rạn san hô cùng hệ sinh vật sống cộng sinh.

Tại đây TS A.Krempf bắt đầu thực hiện sứ mệnh khám phá biển Đông với các cộng sự: hai nhà nghiên cứu ngư học là TS Pierre Chevey và TS Paul Chabanaud, nhà nghiên cứu hóa sinh học - TS Henri Marcelet (người Pháp), nhà nghiên cứu động vật không xương sống ở biển- TS Constantin Dawydoff (người Nga) cùng ông Nguyễn Công Tiêu, nhà nghiên cứu động vật giun nhiều tơ (người Việt Nam). Vỏn vẹn chỉ sáu nhà khoa học lúc đầu nhưng phải gánh vác một nhiệm vụ lớn lao đã được ghi trong quyết định thành lập Sở Hải dương học nghề cá: “Khảo sát điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật, kết hợp với việc đánh cá ở biển Đông, bao gồm hai quần đảo Paracels (Hoàng Sa), Spratly (Trường Sa) và biển Hồ ở Campuchia để xác định chiến lược cho nghề khai thác cá ở Đông Dương. Đồng thời triển khai nghiên cứu các công nghệ chế biến và nuôi trồng hải sản”.

Trở lại với câu chuyện con tàu De Lanessan. Sau một hải trình 63 ngày sóng gió, ngày 7-11-1924 tàu đã cập cảng Hải Phòng. Nó phải mất một thời gian ở đây để thực hiện các công việc đăng ký, đăng kiểm. Đến mùa đi biển chính của năm sau, khi việc đăng kiểm đã hoàn thành, ngày 7-4-1925 tàu De Lanessan được điều động đến vịnh Bắc bộ. Một ngày sau đó, nó đánh mẻ lưới thí nghiệm đầu tiên tại tọa độ 20 độ vĩ bắc và 106,5 độ kinh đông. Kể từ đó, nhật ký hải trình của con tàu ghi dấu những chuyến thám sát dài ngày của các nhà khoa học thuộc Sở Hải dương học nghề cá khi đó và Viện Hải dương học sau này.

Sứ mệnh lịch sử

Nhờ hoạt động hiệu quả của tàu De Lanessan - theo PGS. TS Võ Sĩ Tuấn, viện trưởng Viện Hải dương học - ngay sau khi thành lập, Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương lúc đó đã mở rộng phạm vi nghiên cứu và thu thập thông tin xuống phía nam (vịnh Thái Lan), lên phía bắc (vịnh Bắc bộ), ra các vùng khơi xa và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, khảo sát có hệ thống và định kỳ trên 572 trạm, đặc biệt là hai trạm cố định ở Cầu Đá (Nha Trang) và ở quần đảo Hoàng Sa.

Kể từ năm 1925, tàu De Lanessan đã gắn chặt với các hoạt động của Viện Hải dương học. Trong nhiều báo cáo thường niên của viện đều nhắc đến hoạt động của con tàu. Báo cáo năm 1927-1928 viết: “Trong cả năm hoạt động, tàu De Lanessan đã đi được 106 ngày trên biển, trong đó đã dành trên 300 giờ khảo sát đáy biển và kéo lưới. Như vậy, kể từ khi bắt đầu nghiên cứu đến nay, tổng số giờ chúng tôi dành cho nghiên cứu về địa lý hải dương học và đánh cá ngoài khơi lên đến gần 1.000 giờ”.

Ngày nay bên cảng Cầu Đá (Nha Trang), hầu như ngày nào cũng có du khách nước ngoài háo hức tìm vào khu nhà mang dáng dấp kiến trúc thuộc địa nằm sâu trong khuôn viên của Viện Hải dương học. Đó là Bảo tàng Hải dương học Việt Nam, một trong những bảo tàng lâu đời nhất ở Đông Nam Á. Tại đây, họ thường dừng lại rất lâu trước bức ảnh đen trắng phóng lớn của tàu De Lanessan, được đặt ở một góc trưng bày khá trang trọng.
Một chương lịch sử sóng gió của biển Đông như ngưng đọng ở góc trưng bày này.

Gần một thế kỷ hoạt động hải dương học trên vùng biển Việt Nam và lân cận

Theo PGS. TS Võ Sĩ Tuấn - viện trưởng Viện Hải dương học, Sở Hải dương học nghề cá Đông Dương (tiền thân của Viện Hải dương học) được thành lập vào năm 1922. Đến năm 1930 đổi tên thành Viện Hải dương học Đông Dương. Năm 1952 đổi tên thành Viện Hải dương học Nha Trang. Năm 1954 đổi tên thành Hải học viện Nha Trang. Năm 1975 đổi tên thành Viện Nghiên cứu biển Nha Trang (có sáp nhập Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng vào). Năm 1993 đổi tên thành Viện Hải dương học.

“Bảo tàng tại viện có khoảng 10.000 mẫu sinh vật lấy từ hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa và một số vùng trên biển Đông. Đó là kết quả sưu tập, nghiên cứu của các nhà khoa học từ đầu thế kỷ 20 trên vùng biển Việt Nam và lân cận. Và đó cũng là bằng chứng góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo thiêng liêng này”- ông Tuấn cho biết. 

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ 5 - Kỳ 6

Theo Huỳnh Hiếu (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...